| Tại Lào Cai, hội nghị “Phát triển tín chỉ carbon rừng trồng quy mô hộ gia đình tại Việt Nam” được tổ chức với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan quản lý và các địa phương miền núi phía Bắc. Hội nghị do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp cùng Chương trình Forest and Farm Facility và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai tổ chức. Diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước hoàn thiện thị trường carbon và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, hội nghị được xem là diễn đàn quan trọng nhằm thúc đẩy các giải pháp phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với mục tiêu Net Zero, giảm phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ carbon từ rừng trồng. Để tham gia thị trường tín chỉ carbon và đóng góp vào mục tiêu Net Zero, ngành lâm nghiệp đang chuyển đổi mạnh từ mô hình rừng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn sang quản lý rừng bền vững, nâng cao sinh khối và kéo dài chu kỳ khai thác. Đồng thời, việc xây dựng hệ thống mã vùng trồng rừng, cơ sở dữ liệu số và bản đồ theo dõi trữ lượng carbon được xem là yêu cầu quan trọng nhằm phục vụ công tác kiểm kê, giám sát và xác minh tín chỉ carbon theo tiêu chuẩn quốc tế. | At a conference titled “Developing forest carbon credits for household-scale planted forests in Viet Nam” held in Lao Cai, experts, scientists, government agencies, and representatives from northern mountainous provinces gathered to discuss sustainable forestry solutions. The event was jointly organized by the Vietnamese Academy of Forest Sciences, the Forest and Farm Facility program, and the Lao Cai Provincial Forest Protection Department. Taking place as Viet Nam gradually develops its carbon market and implements its commitment to achieving net-zero emissions by 2050, the conference was considered an important forum for promoting sustainable forestry solutions linked to Net Zero goals, greenhouse gas emission reductions, and increased carbon absorption from planted forests. To participate in the carbon credit market and contribute to Net Zero targets, the forestry sector is undergoing a major transition from short-rotation, small-timber plantations toward sustainable forest management with increased biomass and longer harvesting cycles. At the same time, developing forest plantation area codes, digital databases, and carbon stock monitoring maps is considered essential for inventory, monitoring, and verification activities in line with international carbon credit standards. | Nữ dẫn |
| Phỏng vấn: Ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững“Bây giờ, chúng ta vẫn trồng rừng sản xuất theo chu kỳ 5 - 6 năm. Nếu không thay đổi, rất khó để tham gia tín chỉ carbon. Bắt buộc chúng ta phải thay đổi từ quản trị, đo đạc đến kỹ thuật. Tuy nhiên, đặc thù rừng do cá nhân, hộ gia đình quản lý còn hạn chế cả về năng lực lẫn tài chính. Vì vậy, cần có sự phối hợp giữa doanh nghiệp, chính quyền và nhà khoa học cùng tham gia.” | Mr. Vu Tan Phuong, Director of the Viet Nam Forest Certification Office (VFCO) “Currently, production forests are still being planted on cycles of only five to six years. Without change, it will be very difficult to participate in the carbon credit market. We are required to transform everything from governance and measurement systems to technical practices. However, forests managed by individuals and households still face limitations in both capacity and financial resources. Therefore, cooperation among businesses, authorities, and scientists is essential.” | Nam đọc |
| Để nâng cao hiệu quả hấp thụ carbon và gia tăng giá trị môi trường của rừng trồng, các chuyên gia đã giới thiệu nhiều giải pháp kỹ thuật lâm sinh như đốt thực bì có kiểm soát, bón phân hợp lý, kéo dài chu kỳ khai thác, tỉa thưa định kỳ và áp dụng kỹ thuật khai thác tác động thấp. Những giải pháp này được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao sinh khối rừng, tăng khả năng lưu giữ carbon và tạo thêm nguồn tín chỉ carbon có giá trị thương mại trong tương lai. | To improve carbon absorption efficiency and enhance the environmental value of planted forests, experts introduced various silvicultural solutions such as controlled burning of vegetation, appropriate fertilization, extending harvesting cycles, periodic thinning, and applying reduced-impact logging techniques. These solutions are expected to increase forest biomass, improve carbon storage capacity, and generate valuable carbon credits for future commercial markets. | Nữ dẫn |
| Phỏng vấn ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững: “Như vậy là cái tín chỉ carbon nó sẽ được tạo ra không chỉ ở trong cái lĩnh vực lâm nghiệp, mà bất cứ các cái dự án, các cái ngành, các lĩnh vực khác mà ví dụ như là tôi nói là năng lượng, ví dụ như là nông nghiệp, ví dụ như lâm nghiệp và sử dụng đất. Tất cả những cái tín chỉ carbon mà tạo ra từ những cái lĩnh vực này mà đáp ứng các điều kiện, ví dụ như là nó phải giảm được cái phát thải đối với lâm nghiệp là phải tăng được hấp thụ carbon so với cái mức tham chiếu. Ngoài ra thì các cái điều kiện khác đó là anh phải tuân thủ các cái quy định về đăng ký, về báo cáo, rồi về thẩm định và xác minh, và phải được cái bên thứ ba người ta vào được cơ quan có thẩm quyền người ta phát hành cái tiến chỉ đó. Thì lúc đó nó mới có giá trị về mặt thương mại.” | Mr. Vu Tan Phuong, Director of the Viet Nam Forest Certification Office (VFCO) “Carbon credits can be generated not only in the forestry sector, but also in many other sectors and projects such as energy, agriculture, forestry, and land use. All carbon credits created from these sectors must meet certain conditions. For forestry, this means increasing carbon absorption compared to the reference level. In addition, projects must comply with regulations on registration, reporting, validation, and verification, and the credits must be issued by a competent authority through third-party assessment. Only then can the carbon credits have commercial value.” | Nam đọc |
| Hiện nay, Việt Nam đang từng bước xây dựng hệ thống pháp lý liên quan đến thị trường carbon, bao gồm sàn giao dịch carbon trong nước, cơ chế trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và các quy định về dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng. Đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy kinh tế xanh, huy động nguồn tài chính khí hậu và tạo động lực cho các địa phương phát triển lâm nghiệp theo hướng phát thải thấp. Tuy nhiên, theo nhiều chủ rừng và hợp tác xã lâm nghiệp, quá trình triển khai xây dựng tín chỉ carbon hiện vẫn gặp không ít khó khăn do quy trình kỹ thuật phức tạp, yêu cầu cao về dữ liệu đo đạc, chi phí thực hiện lớn trong khi khả năng tiếp cận thông tin và nguồn lực của người dân miền núi còn hạn chế. | Currently, Viet Nam is gradually building a legal framework related to the carbon market, including a domestic carbon trading exchange, mechanisms for international exchange of greenhouse gas emission reduction outcomes, and regulations on forest carbon absorption and storage services. This is considered an important foundation for promoting a green economy, mobilizing climate finance, and encouraging localities to develop low-emission forestry models. However, according to many forest owners and forestry cooperatives, the implementation of carbon credit development still faces numerous challenges due to complex technical procedures, high requirements for measurement data, and significant implementation costs, while local people in mountainous areas still have limited access to information and resources. | Nữ dẫn |
| Phỏng vấn: Bà Vũ Lê Y Voan, Cố vấn cao cấp chương trình Forest and Farm Facility:“Lào Cai hiện nay và Yên Bái trước đây đã có những chính sách phù hợp để hỗ trợ người dân phát triển rừng như quế hữu cơ, gỗ có chứng nhận quản lý. Đó là điều mà FFF đang hướng tới và phối hợp với tỉnh, xã, huyện triển khai trước đây, nhằm có những tiếng nói phù hợp và nhanh nhất để hỗ trợ người dân địa phương. Khi có kết quả tốt, chúng tôi mới có thể chia sẻ với 12 quốc gia tham gia Chương trình Rừng và Trang trại. Chính vì thế, các nhà tài trợ mới nhìn thấy hiệu quả trong việc hỗ trợ Việt Nam phát triển rừng, nông - lâm nghiệp bền vững, từ đó kêu gọi thêm các nhà đầu tư, hình thành nguồn vốn xanh, tạo điều kiện cho các chương trình phát triển nông - lâm nghiệp.” | Ms. Vu Le Y Voan, Senior Advisor of the Forest and Farm Facility Program “Lao Cai today, and Yen Bai previously, have introduced suitable policies to support local people in forest development, such as organic cinnamon production and certified timber management. This is exactly what FFF has been working toward in cooperation with provincial, district, and commune authorities, in order to provide timely and appropriate support for local communities. Once successful results are achieved, we can then share these experiences with the 12 countries participating in the Forest and Farm Facility Program. This is also how donors can recognize the effectiveness of supporting Viet Nam in sustainable forest and agroforestry development, thereby attracting more investors, mobilizing green finance, and creating favorable conditions for future agricultural and forestry development programs.” | Nữ đọc |
| Phát triển tín chỉ carbon rừng quy mô hộ gia đình được đánh giá là hướng đi tiềm năng đối với các tỉnh miền núi, nơi sinh kế của người dân vẫn phụ thuộc lớn vào rừng và sản xuất lâm nghiệp. Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả trong thực tiễn và đóng góp vào mục tiêu Net Zero của Việt Nam, cần tiếp tục hỗ trợ người dân tiếp cận kỹ thuật, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ, hoàn thiện hành lang pháp lý và thúc đẩy các chính sách phát triển kinh tế xanh gắn với giảm phát thải khí nhà kính. | Developing forest carbon credits at the household level is seen as a promising opportunity for mountainous provinces, where many people still rely on forests for their livelihoods. However, for this model to work effectively and support Viet Nam’s Net Zero goals, local communities will need better access to technical support, clearer regulations, improved data systems, and stronger policies that encourage green and low-emission forestry development. | Nữ dẫn |